Trang chủ Nam khoa
HẠT HẸ – VỊ THUỐC QUÝ CHO NAM GIỚI

Hẹ còn gọi là cửu thái, tên khoa học: Allium tuberosum Rottl. et Spreng. Hẹ được dùng làm gia vị và làm thuốc chữa bệnh.

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 14 Tháng 9 2017 05:25
Đọc thêm...
 
Vô kinh không bế tắc kèm giãn tĩnh mạch tinh: hiệu quả của vi phẫu thuật cột tĩnh mạch tinh giãn hai bên ngả bẹn - bìu

Nguyễn Hồ Vĩnh Phước, Nguyễn Thành Như

Khoa Nam học bệnh viện Bình Dân


TÓM TẮT

Mở đầu: Vô tinh không bế tắc có thể do giãn tĩnh mạch tinh gây ra.

Mục tiêu: Khảo sát hiệu quả của phương pháp vi phẫu cột tĩnh mạch tinh giãn hai bên ngả bẹn-bìu trên bệnh nhân vô tinh không bế tắc có giãn tĩnh mạch tinh.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu lâm sàng tiền cứu mô tả. Vi phẫu thuật cột tĩnh mạch tinh giãn hai bên ngả bẹn-bìu và sinh thiết tinh hoàn được thực hiện trên các bệnh nhân điều trị vô tinh không bế tắc có kèm giãn tĩnh mạch tinh, tại khoa Nam Học, bệnh viện Bình Dân, từ tháng 01/2008 đến 12/2008.

Kết quả: 41 bệnh nhân. Trong 1 năm theo dõi, tỉ lệ có tinh trùng di động hậu phẫu là 21,95% (9 trường hợp). 1 trường hợp hiện đang mang thai và 4 trường hợp đã có con (9,75%).

Kết luận: Vi phẫu cột tĩnh mạch tinh giãn hai bên ngả bẹn-bìu là một biện pháp điều trị hiệu quả cho những bệnh nhân vô tinh không bế tắc có kèm giãn tĩnh mạch tinh.

Từ khóa: giãn tĩnh mạch tinh, vi phẫu thuật cột tĩnh mạch tinh giãn hai bên ngả bẹn-bìu, vô tinh không bế tắc.


MỞ ĐẦU

Vô tinh được định nghĩa là không có tinh trùng trong tinh dịch khi xuất tinh, chiếm khoảng 1% nam giới và lên đến 15% ở nam giới hiếm muộn 2. Tỉ lệ bệnh nhân vô tinh không bế tắc (VTKBT) có kèm giãn tĩnh mạch tinh (GTMT) chiếm từ 5-10% 4,7. Phẫu thuật cột tĩnh mạch tinh giúp cải thiện tinh dịch đồ trong 60-80% bệnh nhân vô sinh có GTMT 2,8. Ngay cả trường hợp vô tinh, phẫu thuật cột tĩnh mạch tinh cũng giúp có lại tinh trùng trong tinh dịch 7. Các tác giả thực hiện nghiên cứu này nhằm mục tiêu khảo sát hiệu quả của phương pháp vi phẫu cột tĩnh mạch tinh giãn hai bên ngả bẹn-bìu trên bệnh nhân VTKBT có GTMT.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đây là nghiên cứu lâm sàng tiền cứu mô tả. Đối tượng khảo sát những bệnh nhân điều trị VTKBT kèm GTMT, tại khoa Nam Học, bệnh viện Bình Dân, từ tháng 01/2008 đến 12/2008. Tinh dịch đồ trước mổ được thực hiện tối thiểu 2 lần, cách nhau tối thiểu 1 tháng.

Vi phẫu thuật cột tĩnh mạch tinh giãn hai bên ngả bẹn-bìu 8 và sinh thiết tinh hoàn được thực hiện trên các bệnh nhân. Các biến chứng như: tụ máu bìu, teo tinh hoàn, tràn dịch tinh mạc hoặc GTMT tái phát được ghi nhận. Bệnh nhân được thực hiện tinh dịch đồ sau phẫu thuật mỗi ba tháng. Mỗi bệnh nhân có tối thiểu 2 lần thử tinh dịch đồ hậu phẫu. Ghi nhận tình trạng có thai và/hoặc có con tự nhiên hoặc nhờ hỗ trợ sinh sản.

KẾT QUẢ

Trong thời gian 1 năm, từ tháng 1/2008 đến 12/2008, nghiên cứu khảo sát 41 bệnh nhân VTKBT, 100% có GTMT hai bên. Tuổi trung bình của bệnh nhân là 31,59 ± 4,37 (23-41 tuổi).

Tinh dịch đồ trước mổ: có vài tinh trùng bất động trong 6 trường hợp (14,6%) và sau khi quay ly tâm không tìm thấy tinh trùng trong 35 trường hợp (85,4%).

Kết quả sinh thiết tinh hoàn có 6 trường hợp giảm sinh tinh (14,6%), 10 trường hợp ngừng sinh tinh nửa chừng (24,4%), 23 trường hợp hội chứng toàn tế bào Sertoli (56,1%) và 2 trường hợp thoái hóa hyalin (4,9%).

100% bệnh nhân được theo dõi hậu phẫu bằng điện thoại và thăm khám trực tiếp, ghi nhận về thai kỳ và có con. Thời gian theo dõi trung bình là 17,32 ± 2,29 (14 – 23 tháng). 9 trường hợp (21,95%) có tinh trùng (TT) di động hậu phẫu. 5 trường hợp có thai và có con (9,75%), trong đó có 3 trường hợp đã có con tự nhiên và 1 trường hợp có con nhờ thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) (bảng 1).

Bảng 1. Kết quả những trường hợp có tinh trùng và/hoặc có con hậu phẫu

Tên

Sinh thiết hai tinh hoàn

Thời gian có TT

Mật độ (x106/ml)

Di động (%)

Có con/thai

NVT

Sinh tinh nửa chừng

3 tháng

14

8

Tự nhiên

LVC

Sinh tinh nửa chừng

3 tháng

8

6

Tự nhiên

NCD

Hội chứng toàn tế bào Sertoli

9 tháng

17

5

Tự nhiên

VTH

Giảm sinh tinh

3 tháng

4

4

TTTON

HSC

Giảm sinh tinh

6 tháng

1

6

TTTON

NVQ

Giảm sinh tinh

12 tháng

37

35

Chưa có

NAT

Hội chứng toàn tế bào Sertoli

3 tháng

1

4

Chưa có

NTH

Sinh tinh nửa chừng

3 tháng

1

1

Chưa có

NĐÂ

Sinh tinh nửa chừng

3 tháng

4

1

Chưa có

Không có các biến chứng như tụ máu bìu, teo tinh hoàn, tràn dịch tinh mạc hoặc GTMT tái phát.

BÀN LUẬN

Hiệu quả trong cải thiện tinh dịch đồ và có thai/có con

Theo Matthews và nhiều tác giả khác, tỉ lệ có tinh trùng di động trong tinh dịch sau phẫu thuật cột tĩnh mạch tinh giãn thay đổi từ 21% lên đến 55% 1,3,4,5,7,9 (bảng 2). Tỉ lệ có thai tự nhiên của các tác giả này là 5,3-9,1% (bảng 2). Như vậy, vô tinh không phải là vô vọng. Phẫu thuật cột tĩnh mạch tinh có thể mang lại khả năng có con cho các cặp vợ chồng VTKBT. Tỉ lệ thành công của nghiên cứu của chúng tôi là 22%, thuộc mức thấp so với các nghiên cứu khác, có lẽ do số bệnh nhân của chúng tôi thuộc nhóm “xấu” (hội chứng toàn tế bào Sertoli và thoái hóa hyalin) có tỉ lệ cao (bảng 3). Tỉ lệ bệnh nhân có hội chứng toàn tế bào Sertoli trong nghiên cứu của chúng tôi là 56% (23/41) so với nghiên cứu của Matthews 7 là 30% (3/10), của Kim 4 là 8,8% (3/34), của Kadioglu 3 là 20,8% (5/24), của Esteves 1 là 35,3% (6/17) và của Lee 5 là 52,6% (10/19).

Tỉ lệ có thai tự nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi là 7,3% cũng tương tự như các nghiên cứu trên (bảng 2).

Tỉ lệ sinh trẻ sống khỏe mạnh trong nghiên cứu này là 9,75% (4 trường hợp). Các nghiên cứu khác không thấy nêu rõ tỉ lệ này.

Bảng 2. Kết quả phẫu thuật cột tĩnh mạch tinh giãn trên bệnh nhân vô tinh.

Tác giả

n

Kỹ thuật mổ

% 2 bên

Thời gian theo dõi

Số BN có TT sau mổ

Số BN có thai

Tự nhiên

TTTON

Matthews (1998)7

22

VP dưới bẹn

77

10 tháng

12 (55%)

2 (9,1%)

3

Kim (1999)4

28

VP bẹn

71

15 tháng

12 (43%)

0

2

Kadioglu (2001)3

24

VP bẹn

70,8

13 tháng

5 (20,8%)

0

Pasqualotto (2003)9

15

VP dưới bẹn

80

KR

7 (46,6%)

1 (6,7%)

KR

Esteves (2005)1

17

VP dưới bẹn

65

19 tháng

8 (47%)

KR

Lee (2007)5

19

VP bẹn

21

7 tháng

7 (36,4%)

1 (5,3%)

KR

Chúng tôi (2010)

41

VP bẹn

100

17 tháng

9 (22%)

3 (7,3%)

2

BN: bệnh nhân, KR: không rõ, VP: vi phẫu.

Phẫu thuật giãn tĩnh mạch tinh một bên hay hai bên?

Trong vô tinh, GTMT đã ảnh hưởng trên cả hai tinh hoàn, do vậy phẫu thuật cả hai bên là hoàn toàn hợp lý. Để chẩn đoán GTMT chúng tôi dựa trên khám lâm sàng và phẫu thuật thám sát bìu 8, các tác giả khác 1,3,4,5,7 dựa trên khám lâm sàng nên tỉ lệ chẩn đoán và phẫu thuật GTMT hai bên của các tác giả này thấp hơn của chúng tôi (21-80% so với 100%). Đáng tiếc là các tác giả này, Matthews 7, Kim 4, Kadioglu 3, Pasqualotto 9 và Lee 5 đều không cho biết tỉ lệ riêng biệt có tinh trùng lại trong tinh dịch của các trường hợp mổ GTMT hai bên và của các trường hợp phẫu thuật một bên, để có thể biết được phẫu thuật GTMT hai bên có thành công cao hơn là phẫu thuật GTMT một bên hay không. Nếu được so sánh, có lẽ phẫu thuật GTMT hai bên có tỉ lệ thành công cao hơn phẫu thuật GTMT một bên, vì, trong một nghiên cứu so sánh sự khác biệt của tỉ lệ có thai tự nhiên của phẫu thuật GTMT hai bên và một bên (đối với các trường hợp hiếm muộn do thiểu nhược tinh kèm GTMT), Libman 6 ghi nhận tỉ lệ có thai tự nhiên đối với những trường hợp cột tĩnh mạch tinh giãn hai bên là 49%, cao hơn so với nhóm bệnh nhân cột tĩnh mạch tinh giãn một bên là 36%.

Liên quan giữa kết quả sinh thiết tinh hoàn và khả năng có tinh trùng trong tinh dịch sau phẫu thuật

Sinh thiết tinh hoàn là một yếu tố quan trọng để tiên lượng hậu phẫu 10. Ngoại trừ báo cáo của Pasqualotto 9, các báo cáo khác (kể cả nghiên cứu của chúng tôi) đều ghi nhận các trường hợp giảm sinh tinh hay ngừng sinh tinh nửa chừng có tiên lượng tốt hơn là hội chứng toàn tế bào Sertoli (bảng 3). Tỉ lệ có TT lại trong tinh dịch đối với các trường hợp giảm sinh tinh là 40-100%, ngừng sinh tinh nửa chừng là 21-100% và hội chứng toàn tế bào Sertoli là 0-10%. Chúng tôi chưa ghi nhận trường hợp thoái hóa hyalin nào có TT trong tinh dịch hậu phẫu.

Bảng 3. Liên quan giữa kết quả sinh thiết tinh hoàn và tỉ lệ có TT trong tinh dịch hậu phẫu.

Tác giả

Giảm sinh tinh

Ngừng sinh tinh

nửa chừng

Hội chứng toàn

tế bào Sertoli

n

Có TT

n

Có TT

n

Có TT

Matthews 7

4

4 (100%)

3

3 (100%)

3

0

Kim (1999) 4

18

10 (56%)

13

5 (39%)

3

0

Kadioglu (2001)3

5

2 (40%)

14

3 (21%)

5

0

Pasqualotto (2003)9

4

0

6

3 (50%)

5

4 (80%)

Esteves (2005)1

6

5 (83%)

5

3 (60%)

6

0

Lee (2007) 5

3

2 (67%)

6

4 (67%)

10

1 (10%)

Chúng tôi (2010)

6

3 (50%)

10

4 (40%)

23

2 (8,7%)

KẾT LUẬN

Vô tinh không bế tắc không phải là vô vọng, ngay cả khi kết quả sinh thiết tinh hoàn là hội chứng toàn tế bào Sertoli. Vi phẫu cột tĩnh mạch tinh giãn hai bên ngả bẹn-bìu mang lại khả năng có tinh trùng di động trong tinh dịch và có con sinh học tự nhiên hay kèm hỗ trợ sinh sản cho những bệnh nhân VTKBT có kèm GTMT.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.    Esteves SC, Glina S (2005). Recovery of spermatogenesis after microsurgical subinguinal varicocele repair in azoospermic men is related to testicular histology.  Int Braz J Urol; 31(6):541-548.

2. Goldstein M. Surgical management of male infertility and other scrotal disorder. In Campbell - Walsh’s Urology 2007, W.B Saunders, 1532-1587.

3.   Kadioglu A, Tefekli A, Cayan S (2001). Microsurgical inguinal varicocele repair in azoospermic men. Urology; 57:328-333.

4.   Kim ED, Leibman BB, Grinblat DM (1999). Varicocele repair improves semen parameters in azoospermic men with spermatogenic failure. J Urol; 162:737-740.

5.   Lee JS, Park HJ, Seo JT (2007). What is the indication of varicocelectomy in men with nonobstructive azoospermia?. Urol; 69:352-355.

6.   Libman J, Jarvi K, Lo K (2006). Beneficial effect of microsurgical varicocelectomy is superior for men with bilateral versus unilateral repair. J Urol; 176:2602–2605.

7.   Matthews GJ, Matthews ED, Goldstein M (1998). Induction of spermatogenesis and achievement of pregnancy after microsurgical varicocelectimy in men with azoospermia and severe oligoasthenospermia. Fertil Steril; 70:71-75.

8.    Nguyễn Thành Như, Trần Chung Thủy, Mai Bá Tiến Dũng (2010). Vi phẫu thuật cột tĩnh mạch tinh giãn hai bên ngả bẹn-bìu: hiệu quả điều trị trong hiếm muộn nam. Tạp Chí Y Học Thực Hành; 14 (2):43-47.

9.    Pasqualotto FF, Lucon AM, Hallak J, Góes PM, Saldanha LB, Arap S (2003). Induction of spermatogenesis in azoospermic men after varicocele repair. Human Reproduction; 18 (1):108-112.

10. Weedin JW, Khera M, Lipshultz LI (2010). Varicocele repair in patients with nonobstructive azoospermia: a meta-analysis. J Urol; 183(6):2309-2315.

 
Vô sinh nam và các phương pháp điều trị

vtc_4759_5-5Giới thiệu
Vô sinh là một trong những vấn đề chính của chiến lược sức khỏe sinh sản của Tổ chức y tế thế giới (WHO). Ơ nước ta, trong những năm gần đây, vấn đề vô sinh ngày càng được quan tâm như là một vấn đề sức khỏe nổi bật. Tại hầu hết các trường đai học y, trung tâm tâm nghiên cứu y học, bệnh viện lớn trong cả nước, vấn đề khám và điều trị vô sinh đang được chú trọng và là một trong những chương trình lớn.

Đọc thêm...
 
Cập nhật về điều trị vô sinh nam

 55192805-hanhdtttinh Vô sinh nam được xem là nguyên nhân vô sinh thường gặp nhất. Vô sinh nam là nguyên nhân chính trong 20% trường hợp vô sinh và góp phần vào nguyên nhân ở 30-40% trường hợp khác (Thonneau et al, 1991). Theo một báo cáo tại Bệnh viện Từ Dũ,  77,3% nam giới đến khám có bất thường ít nhất 1 chỉ số về tinh trùng (NX Quy et al., 2002). Năm 1992, một nhà nghiên cứu người Đan mạch điểm qua 61 nghiên cứu trên thế giới từ năm 1938 về tinh dịch đồ của tổng cộng trên 15.000 người. Tác giả này đã cho thấy số lượng tinh trùng người đang giảm đến hơn 42% trong 50 năm qua. Một báo cáo khác ở Anh cho rằng số lượng tinh trùng của đàn ông Anh hiện đang giảm khỏang 2% mỗi năm.

Đọc thêm...
 
NỮ HÓA TUYẾN VÚ

8-9chot2MỞ ĐẦU

Nữ hóa tuyến vú (gynecomastia, gynaecomastia) là sự tăng sản quá mức không do khối u của mô tuyến vú ở nam giới. Nữ hóa tuyến vú (NHTV) là một tình trạng lâm sàng thường gặp (hình 1), thường là ở hai bên, đều hoặc không đều, và có thể là một bên[1].

Đọc thêm...
 
RỐI LOẠN TÌNH DỤC VÀ VÔ SINH NAM


images1316293_codon21sGIỚI THIỆU

Hòa hợp trong tình dục là một yếu tố rất quan trọng trong bất cứ một cuộc hôn nhân hạnh phúc nào, góp phần làm duy trì mối liên hệ bền vững theo thời gian. Tuy nhiên, các rối loạn về tình dục thường xuất hiện cùng với quá trình lão hóa, cũng như sử dụng thuốc trong các quá trình điều trị nội khoa khác (cao huyết áp, loét dạ dày, tá tràng) hoặc do tổn thương thần kinh (chấn thương cột sống, tiểu đường). Cùng với những nguyên nhân thực thể này, các stress trong xã hội công nghiệp cũng góp phần làm tăng tỷ lệ các rối loạn tình dục (RLTD) trong những năm gần đây. Tuy không chiếm tỷ lệ cao như những nguyên nhân khác, RLTD cũng là một trong những yếu tố dẫn đến vô sinh (Kamischke và Nieschlag, 1999). Ngoài ra, chính tình trạng vô sinh cũng góp phần làm cho các RLTD nghiêm trọng hơn, tạo thành một vòng tròn luẩn quẩn.

Đọc thêm...
 
NỘI TIẾT SINH SẢN NAM

no3man

BS Hồ Mạnh Tường

Giới thiệu

Tuyến yên trước tiết ra các gonadotrpins quan trọng là FSH (follicle-stimulating hormone), LH (luteinizing hormone) dưới sự điều khiển của GnRH do vùng dưới đồi tiết ra. Các tế bào Leydig nằm giữa các ống sinh tinh ở tinh hoàn. Tế bào Leydig tổng hợp và tiết ra testosterone dưới tác động của LH. FSH và Testosterone kích thích quá trình sinh tinh thông qua các tế bào Sertoli ở ống sinh tinh. Testosterone ức chế tiết GnRH và LH. Inhibin và follistatin ức chế tiết FSH; activin kích thích tiết FSH. Ngoài tác động lên quá trình sinh tinh, testerone còn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và phân bố lông trên cơ thể, chuyển hóa xương, phát triển và phân bố khối cơ, các đặc tính sinh dục thứ phát và chức năng hệ sinh dục nam.

GnRH: gonadotropin releasing hormone

GnRH là một decapeptide do vùng dưới đồi tiết ra. Đây là một chất nội tiết thần kinh (neurohormone). Thời gian bán hủy của GnRH ngắn, khỏang 10 phút. GnRH bị phân hủy ở tuyến yên. GnRH được tiết theo nhịp, do đó, FSH và LH cũng được tiết ra từng đợt vào tuần hoàn.

Sự chế tiết GnRH được điều tiết bởi Testosterone. Testosterone có tác dụng phản hồi âm tính làm vùng dưới đồi giảm tiết GnRH và giảm sự nhạy cảm của tuyến yên đối với GnRH. Testosterone có thể chuyển thành DHT (dihydrotestosterone), cũng có tác động ức chế ngược làm giảm tiết GnRH và LH.

GnRH tác động bằng cách gắn kết với thụ thể ở tuyến yên. GnRH có khả năng điều tiết số lượng và họat động của thụ thể. Tác động này tùy thuộc vào tần suất chế tiết và nồng độ GnRH. Hoạt động của các thụ thể hiệu ủa nhất khi GnRH được tiết theo xung sinh lý đều đặn. Nếu GnRH được cung cấp liên tục, sẽ dẫn đến trơ hóa thụ thể và giảm tiết gonadotropins.

Gonadotropins

LH và FSH là những glycoprotein được tuyến yên trước tiết ra, có tác động kiểm soát sự trưởng thành và chức năng của tuyến sinh dục. Cấu trúc của LH và FSH gồm 2 chuỗi polypeptide và . Cấu trúc của chuỗi của LH và hCG rất giống nhau. Do đó, hCG có tác động tương đương với LH trên thụ thể, nhưng hCG có thời gian bán hủy dài hơn.

Thời gian bán hủy của LH là 20 phút và của FSH là 2 giờ. Mặc dù cả hai gonadotropins đều được tuyến yên tiết ra theo các xung GnRH, LH được tiết ra với tần suất cao hơn so với FSH. LH và FSH sau khi được tổng hợp sẽ được dự trữ tại các túi tiết ở tuyến yên và sẵn sàng chế tiết khi nhận được kích thích của GnRH.

LH và FSH đều cần thiết cho quá trình sinh tinh. LH tác động lên quan trình sinh tinh thông qua testosterone, đây là nội tiết quan trọng để khởi phát sinh tinh. FSH đóng vai trò quan trọng để duy trì quá trình sinh tinh bình thường. Inhibin B được tế bào Sertoli tiết ra dưới tác động của FSH. Inhibin lại ức chế tuyến yên tiết FSH.

Testosterone (T)

Androgens rất cần thiết cho sự phát triển và hoạt động của tinh hoàn, sự phát triển của các đặc tính sinh dục thứ phát của nam giới, hệ thống cơ-xương, libido và quá trình sinh tinh trùng. T là androgen quan trọng nhất. Tinh hoàn tiết ra T (5-10mg/ngày). Nguồn androgen quan trọng khác của cơ thể là từ tuyến thượng thận. T do tế bào Leydig trong tinh hoàn tổng hợp và chế tiết. Sự sản xuất và chế tiết T ở tinh hoàn được điều tiết bởi LH tuyến yên và các yếu tố nội tại tinh hoàn (paracrine). Tác động của LH được sự hỗ trợ của FSH. FSH có tác dụng tạo nên các thụ thể LH trên tế bào Leydig ở tinh hoàn.

T được tổng hợp từ cholesterol. Sản phẩm trung gian của qui trình này là pregnenolone. T là sản phẩm chế tiết chính của tinh hoàn. Các sản phẩm phụ bao gồm: DHT (Dihydrotestosterone), androsterone, androstenedione, 17-hydroxyprogesterone, progesterone và pregnolone. T là tiền chất để tổng hợp 2 nội tiết tố quan trọng bên ngoài tinh hoàn là DHT và estradiol.

T chuyển hóa thành DHT chủ yếu tại các cơ quan đích. DHT có ái lực cao hơn T đối với thụ thể androgenic. Tại một số cơ quan đích, DHT là androgen chủ yếu gây các tác động sinh học, như mào tinh, ống dẫn tinh, túi tinh, tiền liệt tuyến. Androsstenedione là tiền chất quan trọng cho việc tổng hợp estrogen ở ngoài tinh hoàn.

T được tiết ra đi vào vòng tuần hoàn và lòng các ống sinh tinh. Nồng độ T trong lòng ống sinh tinh cao khỏang 50-100 lần so với trong máu. Nồng độ T cao cần thiết cho quá trình sinh tinh trùng tại tinh hoàn và trưởng thành của tinh trùng tại mào tinh. FSH gắn với tế bào Sertoli và kích thích tế bào này tiết ra ABP (androgen binding protein). ABP giúp duy trì nồng độ cao T trong lòng ống sinh tinh, đảm bảo cho quá trình sinh tinh. Tế bào Sertoli ở tinh hoàn tương đương với tế bào hạt và tế bào Leydig tương đương với tế bào vỏ ở buồng trứng.

Nồng độ T tăng trong máu sẽ tạo phản hồi âm tính làm giảm tiết LH. T và DHT ức chế hạ đồi bằng cách giảm tần số tiết GnRH. Estrogen làm giảm tiết gonadotropin bằng cách cường độ chế tiết FSH, LH. Progesterone cũng ức chế tiết gonadotropins.

T huyết thanh tồn tại dưới 3 dạng khác nhau: tự do, gắn với albumin, gắn với SHBG (sex hormone-binding globulin). Khoảng 2% tồn tại ở dạng tự do, 44% gắn với SHBG và 54% gắn với albumin. T sinh khả dụng (Bioavailable testosterone) bao gồm testosterone tự do và T gắn với albumin. SHBG có ái lực rất cao đối với testosterone. Nếu SHBG tăng, nồng độ testosterone tự do sẽ bị giảm đáng kể. Nồng độ SHBG ở nam giới chỉ bằng khoảng 1/3 – 1/2 so với nữ. SHBG tăng ở nam giới bị suy tuyến sinh dục. Định lượng T nên thực hiện vào buổi sáng để tránh ảnh hưởng của sự thay đổi chế tiết testosterone theo chu kỳ trong ngày.

Free testosterone index (FTI) = total testosterone / SHBG

Nồng độ T toàn phần


< 200ng/dL ở nam giới có triệu chứng được chẩn đoán là suy tuyến sinh dục.

200-400ng/dL có thể có lợi khi điều trị bổ sung T

> 400ng/dL loại trừ suy tuyến sinh dục

Hiện nay, ở Việt nam chỉ định lượng được T toàn phần. Điều này giúp khó đánh giá được hoạt động của testosterone trong cơ thể. Có thể tính dược chỉ số testosterone tự do (FTI) nếu định lượng được SHBG. Ngoài ra có thể ước tính được testosterone tự do (calculated free testosterone) thông qua các chỉ số: testosterone toàn phần, SHBG và Albumin huyết tương.

Tác động sinh học của androgen

Androgens đóng vai trò quan trọng torng suốt cuộc sống của nam giới. Trong giai đoạn phôi thai, T quyết định sự biệt hóa của cơ quan sinh dục. Trong giai đoạn dậy thì, T giúp phát triển các đặc tính sinh dục thứ phát và kiểu hình nam giới. T đóng vai trò không thể thiếu để duy trì các họat động sinh sản của nam giới và kiểu hình nam giới trong suốt cuộc sống.

Cả T và DHT đều cần thiết cho sự phát triển của dương vật trong gia đoạn dậy thì. Tuy nhiên, thụ thể androgen không còn hiện diện ở nam giới đã trưởng thành. Suy tuyến sinh dục sau tuổi trưởng thành không làm giảm đáng kể thể tích dương vật. Ngược lại, bổ sung T sau dậy thì không thể làm tăng thể tích dương vật.

T có tác động trực tiếp lên chuyển hóa của cả cơ vân và cơ trơn. T giúp làm tăng khói lượng cơ. Thiếu hụt T sẽ dẫn đến teo cơ. Cả androgen và estrogen đều làm tăng mật độ xương. Androgen đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của da và lông, tóc. Các tác động này cũng phụ thuộc vào vị trí da, lông và độ nhạy với androgen của nang lông ở từng người. Androgen có tác động tăng tạo máu và tăng tổng hợp hemoglobin.

Trong giai đoạn dậy thì, testosterone làm tăng kích thước thanh quản và thay đổi dây thanh âm ở thiếu niên nam là vỡ giọng và giọng trở nên trầm hơn so với nữ. Cao độ của giọng nói nam giới phụ thuộc vào thời gian kéo dài của giai đoạn dậy thì, sau đó thì không thay đổi nữa.

Testosterone có các tác động tâm lý quan trọng. Người ta thấy có mối liên quan mật thiết nồng độ androgen với hoạt động về tinh thần, trạng thái tâm thần và sự tự tin. Giảm androgen thường đi kèm với giảm hứng thú và động cơ trong cuộc sống, trầm cảm, giảm libido và hoạt động tình dục.

 
“Siêu vi phẫu” trong thụ tinh trong ống nghiệm

Kỹ thuật vi thao tác (micromanipulation) là các kỹ thuật giúp thao tác được trên từng tế bào như tinh trùng, trứng, hoặc phôi dưới kính hiển vi độ phóng đại lớn (200-300 lần), phôi để tạo ra phôi người, làm tăng khả năng sống và phát triển của phôi, đồng thời có thể giúp chẩn đoán phát hiện ra các bất thường của phôi. Tất cả các ứng dụng của vi thao tác vào điều trị hiếm muộn đã từng bước được áp dụng thành công ở Việt nam.

Đọc thêm...
 
Kết quả thực hiện kỹ thuật chọc hút tinh hoàn, mào tinh và sinh thiết tinh hoàn tại trung tâm công nghệ phôi 2 năm 2008 - 2009

tinh_hoanThS Trịnh Quốc Thành; TS Quản Hoàng Lâm; PGS.Ts Nguyễn Đình Tảo

TS Trần Hồng Sơn; ThS Trịnh Thế Sơn

Trung Tâm Công Nghệ Phôi - Học Viện Quân Y

Summary

325 azoospermic patients were carried out PESA, MESA and testicular biopsy in IVF Center - Military Medical University for 2 years (from 2008 to 2009).

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 10 Tháng 7 2011 03:52
Đọc thêm...
 
Phẫu thuật điều trị vô sinh nam: Ý kiến của người bệnh

Dương Quang Huy [1], Nguyễn Thành Như [2]

[1] Học viên khoa Nam học bệnh viện Bình Dân,

[2]Bác sĩ Trưởng khoa khoa Nam học bệnh viện Bình Dân

MỞ ĐẦU

Bệnh nhân vô sinh nam ngày nay có thể đạt được mong muốn có con bằng cách bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI), thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) và phẫu thuật 3. Phẫu thuật ở đây bao gồm phẫu thuật giải phóng bế tắc trong vô sinh do bế tắc và phẫu thuật giúp cải thiện tinh dịch đồ 4. Trong thực tế, có những bệnh nhân chọn phẫu thuật ngay từ đầu, và cũng có nhiều trường hợp hỗ trợ sinh sản thất bại trong việc giúp bệnh nhân có con và bệnh nhân chuyển sang chọn phẫu thuật. Vì sao bệnh nhân chọn phẫu thuật để điều trị vô sinh? Chúng tôi chưa ghi nhận một nghiên cứu về đề tài này tại Việt Nam. Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm khảo sát ý kiến của bệnh nhân khi lựa chọn phẫu thuật là phương pháp điều trị vô sinh nam.

Đọc thêm...
 
Thực phẩm cho nam giới hiếm muộn

Hiện nay, tỉ lệ hiếm muộn do nam giới chiếm khá cao. Ngoài việc chữa trị bằng các phương pháp khoa học hiện đại, y học cổ truyền cũng góp phần đáng kể giúp các quý ông thực hiện được vai trò làm bố, đó chính là các món ăn bài thuốc. Mời các bạn tham khảo:

Đọc thêm...
 
Sữa ong chúa, cải thiện sinh lực đàn ông

Trong gia đình ong mật gồm có ong chúa, ong thợ, ong đực (còn gọi là ong rối). Công việc đặc biệt nhất của ong là kiếm mật hoa và phấn hoa, nhồi đầy vào cái dạ dày thứ hai của mình, mang về tổ để cho các nàng ong thợ ở nhà "tôi luyện" trong cái miệng của mình thành ra một thứ mật rất ngọt và sánh đặc như sirô, sẽ được chứa đầy trong các ngăn và vít kín bằng một thứ sáp mầu trắng, là thức ăn dự trữ cho cả đàn vào những ngày đông tháng giá. Ngoài ra, chúng lại còn có một nhiệm vụ quan trọng như một vú em, nghĩa là từ tuyến họng của ong thợ, sẽ tiết ra một chất đặc biệt có màu trắng như sữa và sền sệt như kem, với lượng rất nhỏ, song có chất lượng dinh dưỡng rất cao, được dùng cho việc nuôi dưỡng các ấu trùng (mầm non của ong thợ sau này) và ong chúa. Tuy nhiên, ong thợ cũng chỉ được phép sử dụng trong có 3 ngày đầu của cuộc đời ngắn ngủi 4-6 tuần lễ của mình, còn ong chúa thì được chăm bẵm suốt cả một cuộc đời dài tới 5-6 năm. Cũng với lý do đó mà người ta gọi cái chất đặc biệt này là sữa ong chúa.

Đọc thêm...
 
Cá Chạch: “cứu tinh” cho quý ông yếu sinh lý

http://namkhoa.org/wp-content/uploads/2011/05/catrach.bmpChạch là một loại cá nước ngọt, thân dài, da trơn, nom hơi giống con lươn nhưng ngắn và nhỏ hơn, chuyên sống ở tầng nước đáy, thường rúc trong bùn. Đây là một thực phẩm có tiếng là bổ.

Đọc thêm...
 
9 cách chữa xuất tinh sớm không cần thuốc

Bao cao su giúp hạn chế khả năng xuất tinh sớm. Ảnh: Inmagine.

Bạn “chưa đến chợ đã hết tiền”? Hay giá Viagra quá cao ? Đừng lo, các giải pháp dưới đây có thể giúp bạn khắc phục mà không cần dùng thuốc.

Đọc thêm...
 
Ngao – Thực phẩm tốt cho quý ông

http://namkhoa.org/wp-content/uploads/2011/06/ngao.bmpNgao còn tên gọi khác là nghêu hay nghiêu, tên khoa học Meretrix meretrix L thuộc họ ngao (Veneridae), thịt và vỏ đều được sử dụng làm thuốc trong Đông y chữa trị được nhiều bệnh chứng.
Thịt ngao Đông y gọi là xa ngao nhục, tính hàn, vị ngọt mặn, không độc, có công năng giải độc, tiêu khát, tư âm, lợi thủy, hóa đờm, chủ trị chứng ho nhiều đờm, loét dạ dày hành tá tràng, băng huyết, bỏng, trĩ. Ngoài ra còn trị được phù nước, hoàng đản, phụ nữ bị băng đới, bướu cổ, lao phổi, âm hư, hen suyễn, tiểu đường, viêm phế quản mạn, bỏng, bị thương…

Đọc thêm...
 
« Bắt đầuLùi1234Tiếp theoCuối »

Trang 1 trong tổng số 4